Phải chăng đường ven biển không thay đổi?

Phải chăng đường ven biển không thay đổi?
Phải chăng đường ven biển không thay đổi?

Chúng ta đã biết: bờ biển là phần lục địa chịu ảnh hưởng của nước biển. Nói cụ thể hơn là phần lục địa phía trên mực nước biển cao nhất, đường ranh giới phía trên của nó là chỗ có thể bị ảnh hưởng của gió to sóng lớn gọi là bờ biển. Vùng bờ biển có nhiều tài nguyên, nhiều bến cảng, có các con rạch nối với các sông nhỏ của lục địa; nó không những là tiền tiêu của quốc phòng mà còn là đầu mối giao thông trên bộ dưới biển. Từ xưa đến nay, bờ biển là dải đất nơi con người hoạt động kinh tế sầm uất, có nhiều thành phố và bến cảng. Bờ biển là vùng đất ven bờ rất đặc biệt, có sức hấp dẫn; là nơi danh lam thắng cảnh cho du lịch. Số

Mặt biển thấp

Mặt biển vừa

Mặt biển cao người sinh sống ở bờ biển và vùng lân cận chiếm tới 2/3 dân số thế giới.

Đường ven biển là gì?

Đường giao cắt giữa mặt nước biển với bờ lục địa gọi là đường ven biển. Tổng chiều dài đường ven biển trên thế giới là 44 vạn km. Khi chúng ta xem bản đồ thấy có đường ven biển bằng thẳng, có đường gãy khúc, tại sao như vậy?

Bạn có muốn biết  Tại sao khí hậu ven biển ôn hòa?

Bờ biển tạo nên do bùn cát lắng đọng thuộc loại bờ biển nâng cao, bờ biển có mạch núi ven biển cùng hướng với đường ven biển. Những tình huống ấy đều làm cho đường ven biển thành bằng thẳng. Nếu hướng đi của mạch núi không khớp với đường ven biển, khi mạch núi cắt nghiêng hoặc cắt thẳng đường ven biển hoặc bờ biển thuộc loại hạ thấp, bờ biển chịu tác dụng sông băng, bờ biển có dòng nước hòa tan ăn mòn nham thạch vôi… Những tình huống đó đều làm cho đường ven biển gãy khúc. Thí dụ: bờ ven biển phần Tây châu Mỹ song song với hệ núi cao lớn là đường ven biển bằng thẳng. Ở Nam Tư, dòng nước hòa tan ăn mòn nham thạch vôi nên thành đường ven biển gãy khúc. Ở Na Uy, bờ biển phía Tây có sông băng tác dụng nên thành đường ven biển gãy khúc.

Căn cứ vào sự thay đổi của đường ven biển bằng thẳng và gãy khúc trên đây, có thể nói rằng: đường ven biển có thay đổi. Vỏ đất ở vào đường ven biển của thời kỳ nâng cao, nước biển xuống lục địa rộng ra; ngược lại, vỏ đất ở vào đường ven biển của thời kỳ hạ thấp, nước biển dâng lục địa thu nhỏ lại. Nhiệt độ khí hậu toàn cầu thông thường tăng lên, khi thời tiết ấm áp có nhiều sông băng bị tan, nhất là sông băng ở Nam Cực bị tan, lượng nước biển toàn thế giới tăng lên, mực nước biển dâng cao và chảy lấn vào lục địa, biển rộng ra, đường ven biển bị thay đổi. Khi nhiệt độ khí hậu toàn cầu khắp nơi đều hạ xuống, diện tích mặt biển thu hẹp lại, diện tích lục địa lớn lên, đường ven biển cũng thay đổi.

Bạn có muốn biết  Đường ven biển và mặt chuẩn là gì?

Chương 11

NƯỚC BIỂN BIẾN ĐỔI

NHƯ THẾ NÀO?

Khả năng hòa tan vật chất và sự thay đổi nóng lạnh của nước biển như thế nào?

Nước biển có khả năng hòa tan rất mạnh, có nhiều vật chất bị hòa tan, cho nên nước biển là một dung dịch. Do hàm lượng vật chất bị hòa tan khác nhau nên nước biển có vị khác nhau, lượng muối khác nhau, qui luật phân bổ khác nhau. Do nước biển mang lượng tạp chất khác nhau nên có màu sắc và độ trong suốt khác nhau.

Đại dương là chủ thể của biển, diện tích rất bao la mênh mông, lượng nước vô cùng lớn, mặt nước là một chỉnh thể liên tục ít chịu ảnh hưởng của đại lục, do đó hàm lượng vật chất hòa tan của nước biển ổn định. Vùng biển dựa sát ven bờ đại lục chịu nhiều ảnh hưởng của lục địa, chênh lệch hàm lượng vật chất bị hòa tan rất rõ ràng, biên độ thay đổi cũng lớn.

Bạn có muốn biết  Ấn Độ Dương rộng và ngắn như thế nào?

Nhiệt độ của nước biển hạ thấp dần từ vĩ tuyến thấp đến vĩ tuyến cao, nhưng biên độ thay đổi nhiệt độ nhỏ hơn biên độ thay đổi nhiệt độ của lục địa. Vùng biển tiếp cận đại lục vì chịu ảnh hưởng chênh lệch lớn về nhiệt độ nóng lạnh của đại lục nên nhiệt độ nước biển tăng lên. Biển ở hai cực trái đất, về mùa đông có hiện tượng đóng băng; ở vùng vĩ tuyến trung, chỉ có vùng biển ven bờ mới có hiện tượng đóng băng.

Bạn có hài lòng với câu trả lời không?
[Lượt đánh giá: 0 Trung bình: 0]

Leave a Comment

Your email address will not be published.